Người thương binh ‘bên ni bên nớ’

Tin tức: http://www.facebook.com/VOATiengViet, http://www.youtube.com/VOATiengVietVideo, http://www.voatiengviet.com. Nếu không vào được VOA, xin các bạn hãy vào http://vn3000.com để vượt tường lửa.

Khi im tiếng súng, sau cuộc chiến, người lính lại trở về với cuộc đời “không khói lửa.” Tiếng súng tịch lặng, nghĩa là mọi chết chóc, thù hận hay căm hờn đã lùi về quá khứ, có thể những vệt nối của cuộc chiến tư tưởng còn kéo dài, nhưng với người lính đích thực, dù “bên ni” hay “bên nớ”, dường như lòng yêu thương, nước mắt cảm thông và nỗi buồn chiến tranh cũng đã thấm đẫm.

Ông Lương Văn Dũng, thương binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chia sẻ với VOA: “Tôi là lính thuộc địa phương quân thuộc tiểu khu Quảng Nam, bị thương năm 1972 tại chiến trường Duy Xuyên.”

Ông Đinh Cao Thắng, thương binh bậc 2/4, quân đội Cộng sản Việt Nam, chia sẻ với VOA: “Mình đánh ở cây số 6, bị thương phổi, bị móp ở đầu… giờ khó nhớ, trí tuệ không minh mẫn như hồi xưa nữa.”

Ông Lương Văn Dũng bày tỏ: “Trở về với đời sống rất cực khổ, tôi phải lê lết đi bán từng tờ vé số, để là một lao động thực thụ nuôi bản thân.”

Ông Đinh Cao Thắng thì chia sẻ: “Đối với thương binh bên kia thì vì trách nhiệm của họ buộc lòng hai bên xô xát nhau, phải có người bị thương, có người hy sinh. Nhưng mình nghĩ cũng thương họ vì họ thương binh mình cũng thương binh. Nhưng mình phải thương họ vì họ giờ tàn tật cũng phải lo vợ lo con, rồi những người tàn phế mới tội, còn bên mình thì dù sao giờ mình cũng có đồng lương.”

Nếu như người thương binh của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa phải bươn bả kiếm sống, thậm chí vất vưởng trên từng góc nẻo cuộc đời bởi sự lạnh lùng của thời cuộc… thì người thương binh Cộng sản cũng có nỗi cô đơn, nỗi thê lương của một người vừa bỏ cuộc chơi trong bàn cờ thế cuộc. Họ, dù bên ni hay bên nớ, có chung một điểm là phải chật vật kiếm sống, chỉ khác chăng là người được nhận lương cho phần thân thể đã mất, người phải tự xoa dịu vết thương của mình trên mỗi bước chân kiếm cơm đầy cay đắng, tủi buồn…

Ông Lương Văn Dũng chia sẻ với VOA: “Trải qua 43 năm, tôi lê lết quá cực khổ với mưa nắng, bây giờ thân thể của tôi tuổi đã già, sức yếu không thể lao động kiếm

manh cơm manh áo, vợ tôi bị bệnh, tôi có người con bị tai nạn giao thông sống như thực vật giờ ngồi một chỗ, cuộc sống hết sức khó khăn.”

Ông Đinh Cao Thắng thì nói: “Còn sống được là mừng rồi, chứ đồng đội của tôi nằm rải rác không tìm ra được mới tội chứ.”

Ông Lương Văn Dũng thì nói ông “buồn cho anh em và tình người huynh đệ chi binh. Trong những năm chiến tranh người ra đi, người trở về không nguyên vẹn thể xác…”, và ông “buồn rồi đau khổ cho những anh bạn bỏ mình nơi rừng thiên nước đồng mà đến giờ vẫn không thể có mồ yên mả đẹp.”

Sau 43 năm, dường như mọi thứ chỉ còn lại tro bụi, kể cả tuổi xanh và sức khỏe. Điều mà người thương binh, dù bên ni hay bên nớ đều có thể cảm nhận và thông cảm cho nhau là họ đã mất quá nhiều. Họ đã mất một phần thân thể cho chiến tranh, không những vậy, họ đã mất những người thân và chiến hữu. Nỗi đau và trăn trở chung mà chúng tôi cảm nhận được từ người thương binh hai phía là những chiến hữu bỏ mình nơi rừng thiêng nước độc, đã 43 năm qua, những cánh rừng lại một lần nữa chảy máu, xóa mất dấu vết mộ phần.

Và mỗi dịp 30 tháng 4, dù bên ni hay bên nớ, nỗi buồn vẫn còn đó.

(Visited 1 times, 1 visits today)